Tin Cập Nhật
|
|
|
 |  |
|
Cỡ chữ:
|
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni |
Tác giả:
HT. Thích Đức Nhuận |
Sự xuất hiện của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni trong thế giới loài người là một vinh hiển cho con người và cuộc đời. Ngài là kết tinh của muôn ngàn hương hoa “từ bi” và “trí tuệ, là hiện thân của chân lý, là điềm lành cho hết thảy chúng sinh trong tam thiên đại thiên thế giới. “Nếu cõi đời không đau khổ, tối tăm, điức Phật đã chẳng xuất hiện ở đời”.
Ngài ra đời, vì mục đích trọng đại là Khai thị ngộ nhập Phật tri kiến cho chúng sinh, nên dù chúng ta có là Phật tử hay không, thiết tưởng cũng cần biết sơ lược về lịch sử, những diễn biến lớn của cuộc đời Ngài, là Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, vị giáo chủ khai sáng đạo Phật. Ở đây, ta hãy tìm hiểu những nét chính của lịch sử ấy.
NIÊN ÐẠI ÐẢN SINH
Có nhiều thuyết khác nhau. Theo thuyết phổ thông hiện nay, đức Phật đản sinh thành đạo, niết bàn nhằm ngày trăng tròn tháng Vesak của xứ Ấn Ðộ, tức là ngày 15 tháng 4 âm lịch năm 623 trước Jésus Chirst ra đời. Như vậy, tính từ khi đức Phật đản sinh đến nay là 2.595 – 1971, nhưng cuộc đại hội nghị Phật giáo thế giới kỳ II tại Tokyo (Nhật Bản) năm 1952, đã quyết định lấy năm đức Phật niết bàn làm ngày kỷ niệm “Phật lịch” thống nhất cho toàn thế giới = 2.515 – 1971. Và, từ ngày ấy đến nay, trong lịch sử nhân loại, đã trải qua bao nhiêu biến cố hưng suy, nhưng đạo Phật vẫn tồn tại và triển khai, vẫn sống và vẫn sáng.
THÂN THẾ VÀ NƠI SINH THÁI TỬ
Thái tử Siddhartha (Sĩ Ðạt Ta) thuộc giai cấp Satriya (Sát Ðế lị) giòng Cakya (Thích Ca) một đại quý tộc ở Ấn Ðộ, con hoàng đế Cuddhodana (Tịnh Phạn) và hoàng hậu Mâyâdevi (Tịnh Diệu). Sử chép gần ngày sinh thái tử, hoàng hậu phải trở về kinh đô Devadaha nước (Câu li) – theo cổ tục đàn bà có mang phải về quê cha mẹ mình để sinh – và đản sinh thái tử ở vườn hoa Lumbini (Lâm Tì Ni), bên gốc cây Asaka (Vô Ưu), nay là xã Ruminidhehi, thuộc quả hạt Aouth, phía tây nam xứ Népal và phía đông Rapti. Toàn cõi Ấn Ðộ chia làm nhiều tiểu quốc... Kinh thành chính nhà vua lúc bấy giờ có tên là Kapilavastu (Ca Tì La Vệ), nơi phát sinh đấng Ðại từ bi phụ của hết thảy chúng sinh trong cõi tam thiên đại thiên thế giới. Ðản sinh thái tử được 7 ngày thì hoàng hậu Mâyâdevi tạ thế. Sau nhờ bà dì là Mahâprajâpati Gautami (Ma Ha Ba Xà Ba Ðề) trông non, nuôi dưỡng thái tử cho đến khi ttrưởng thành. Năm 1806, người ta tìm được ra một trụ đá của vua Asoka có khắc hàng chữ: “chỗ này là vườn Lumbini (lâm Tì Ni), nơi đức Phật đản sinh”.
HÌNH TƯỚNG VÀ TƯ CHẤT
Thái tử có 32 tướng quí, 80 vẻ đẹp. Nhà tiên tri Asita ( A Tư Ðà) khi xem tướng thái tử, có nói : “ Nếu thái tử ở tại gia sẽ là một vị vua trên hết các vị vua chúa trong hoàn cầu, ngự trị cả năm châu; nhưng chữ vạn nổi ở trên ngực là điềm báo trước thái tử sẽ xuất gia thành Phật, làm chủ cả tam giới, dắt đường chỉ nẻo cứu độ cho hết thảy chúng sinh”. Năm thái tử lên 7 tuổi, cha cho mời các đạo sĩ trứ danh thời bấy giờ vào dạy : Như học văn ông Visvamistra (Tì Mật Ðà La) và học võ ông Ksantidiva (San Ðề Ðề Bà), không bao lâu thái tử trở nên bậc văn võ toàn tài, tinh thông, và sở trường hơn hết là các môn nghị luận, triết lý , văn chương... Thái tử là vị thiếu niên bác học đương thời vậy. Năm 16 tuổi, thái tử vâng lệnh vua cha kết hôn với công nương Yasôddhara (Da Du Ðà La) và sinh hạ được một người con trai tên là Rahula (La Hầu La).
LÝ DO XUẤT GIA
Hiện trạng xã hội Ấn Ðộ lúc bấy giờ luôn luôn sống trong tình trạng báo động, nghi ngờ, áp |
Nguồn:
admin |
Số người xem:
4307
In Bài Này
Xem Góp Ý
Góp Ý
|
|
|
|
|
|
|
 Những
Bài cùng Thể Loại :
|
|
Kinh Pháp Cú
|
|
|